Có nhiều giả thuyết về các yếu tố hình thành nên thiên hướng tình dục đồng tính, trong đó bao gồm:
Kiểu gen (bẩm sinh).:[61] Nhiều người nghĩ đồng tính là bẩm sinh và do gen quyết định. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Peter Bearman và Hannah Bruckner, từ Đại học Columbia và Đại học Yale, khi nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm Y tế quốc gia vị thành niên, cho biết xác suất cả 2 người trong cặp song sinh đều là đồng tính chỉ là 6,7% với nam và 5,3% với nữ. Họ kết luận: kiểu gen chỉ là một trong những nguồn gốc của đồng tính luyến ái, những nguyên nhân khác như ảnh hưởng từ văn hóa, xã hội và gia đình với trẻ em đóng vai trò quan trọng hơn[62]
Môi trường sống và sự dạy dỗ.[61]
Sự tương quan với môi trường sống: đồng tính luyến ái có tương quan với sự đô thị hóa của nơi đối tượng ở lúc 14 tuổi (độ tuổi bắt đầu dậy thì và có sự định hình về hấp dẫn giới tính). Sự tương quan ở nam cao hơn ở nữ. Mức độ thị hóa càng cao thì tỷ lệ đồng tính càng có xu hướng tăng, nguyên nhân vì ở các thành phố lớn có các chuẩn mực đạo đức lỏng lẻo hơn, lối sống cá nhân cao hơn cũng như có nhiều tác động văn hóa-xã hội khó kiểm soát, khiến vị thành niên tại đó dễ có thiên hướng đồng tính hơn.[63][64][65][66]
Yếu tố gia đình: sự thiếu bảo bọc của người cha và sự gắn bó quá mật thiết với người mẹ là nhân tố chính hình thành đồng tính ở nam giới. Đối với nữ, việc có mẹ qua đời ở tuổi vị thành niên, là con út hay con gái duy nhất trong gia đình cũng làm tăng khả năng đồng tính. Những người có cha mẹ ly hôn hoặc mất sớm sẽ có xu hướng đồng tính cao hơn những người có cha mẹ hạnh phúc[67][68][69]
Chấn thương tâm lý: Việc bị chấn thương tâm lý do bị lạm dụng tình dục cũng là một yếu tố. Một nghiên cứu trong Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ phát hiện ra rằng "vị thành niên bị lạm dụng tình dục, đặc biệt là nam giới, có khả năng tự nhận mình là người đồng tính hay song tính cao gấp 7 lần so với những người không bị lạm dụng"[70] Một nghiên cứu khác cho thấy rằng "46% nam đồng tính so với 7% của nam dị tính báo cáo rằng đã bị lạm dụng tình dục. Con số này tương ứng là 20% trong số đồng tính nữ so với 1% ở nữ dị tính"."[71]
Ảnh hưởng từ văn hóa xã hội: Khuôn mẫu tình dục của mỗi cá nhân là một sản phẩm của văn hóa xã hội. Những xã hội có xu hướng chấp nhận đồng tính thì sẽ có nhiều cá nhân có khuynh hướng đồng tính hơn. Tại Mỹ, đã có sự gia tăng số phụ nữ cảm thấy thu hút đồng tính. Nhà nghiên cứu Binnie Klein cho rằng "rõ ràng là một sự thay đổi trong xu hướng tình dục trong tâm trí nhiều người hơn hơn bao giờ hết, và có nhiều cơ hội hơn - và sự chấp nhận - để vượt qua làn ranh (về giới tính)"[72] Toni Meyer, nhà nghiên cứu cao cấp của Hội đồng Chính sách gia đình bang New Jersey (Mỹ), cho biết: cùng với phong trào ủng hộ đồng tính lên cao, từ năm 1994, số đồng tính nam (ở Mỹ) đã tăng 18%, và số lượng đồng tính nữ còn tăng tới 157%. Điều này cho thấy những yếu tố văn hóa có tác động mạnh mẽ trong việc khuyến khích các hành vi đồng tính, và ít nhất là gián tiếp, làm suy yếu toàn bộ lý thuyết về việc "đồng tính là bẩm sinh".
Số lượng anh trai của đối tượng (đối với người đồng tính nam).:[73] Theo nhiều nhiên cứu, có thêm một người anh trai sẽ tăng khả năng là đồng tính lên 28%–48%.[74][75][76][77] Hiệu ứng anh trai chiếm khoảng 1/7 trong số người đồng tính nam.[78] Không có sự tương quan giữa số chị gái và sự đồng tính của một người nữ.[79]
Hoócmôn trong giai đoạn bào thai.:[80][81] Các chuyên gia của Viện Toán và Tổng hợp sinh học quốc gia (Mỹ) cho rằng đồng tính luyến ái có liên hệ với "ngoại tố di truyền học", gọi là epi-mark. Epi-mark về giới tính được sản sinh trong giai đoạn đầu bào thai, nhằm bảo vệ giới tính không bị testosterone ảnh hưởng, ngăn bào thai nữ phát triển theo hướng nam tính và ngược lại. Tuy nhiên trong một số trường hợp, những epi-mark đó được truyền từ cha sang con gái hoặc từ mẹ sang con trai, gây hiệu ứng đảo nghịch về sự hấp dẫn giới tính[82]
Sự lo âu của người mẹ khi mang thai.[83][84][85]
Tổng hợp của các yếu tố trên.
Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics) khẳng định rằng "Thiên hướng tình dục được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hoocmon và ảnh hưởng môi trường".[86] Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên các yếu tố sinh học và/hoặc tâm lí như kiểu gen và sự hoạt động của một số hoocmon ở bào thai. Sigmund Freud và các nhà tâm lý học khác xác nhận rằng sự hình thành thiên hướng tình dục do nhiều nhân tố, trong đó có các sự việc quá khứ xảy ra trong thời thơ ấu. Tiến sĩ tâm lý học nổi tiếng người Tây Ban Nha là Enrique Rojas thì cho rằng: 95% nguyên nhân dẫn tới đồng tính là do các yếu tố môi trường như sự thiếu vắng quan tâm của người cha, người mẹ hung dữ hoặc bị lạm dụng tình dục trong thời thơ ấu.
Nhà nghiên cứu Lisa Diamond, khi xem xét các nghiên cứu về xác định tình dục đồng tính và song tính của nữ, nói rằng nghiên cứu tìm thấy "sự thay đổi và tính linh động trong tình dục đồng giới, nó mâu thuẫn với mô hình thông thường cho rằng khuynh hướng tình dục là cố định và bẩm sinh"[87] Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các hành vi không phù hợp với giới tính ở trẻ em là chỉ báo lớn nhất của tình dục đồng giới ở tuổi trưởng thành[88][89] Dary Bem cho thấy rằng một số trẻ em khi chứng kiến hành vi tình dục đồng tính có thể gợi lên kích thích sinh lý, mà sau này sẽ được chuyển thành kích thích tình dục. Peter Bearman cho rằng những phát hiện của ông ủng hộ giả thuyết rằng hành vi giới tính trong thời thơ ấu và thiếu niên sẽ góp phần hình thành quan hệ đồng tính ở tuổi trưởng thành. Ngoài những tác động cá nhân, cấu trúc xã hội và những ảnh hưởng từ văn hóa xã hội cũng góp phần tạo ra sự thu hút đồng tính.[88] Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, Alan Sanders, tuyên bố rằng "những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ môi trường sống."[90] Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.[91]
Hai nhà nghiên cứu Bearman và Bruckner (năm 2002) đã nghiên cứu 289 cặp song sinh giống hệt nhau (song sinh cùng trứng) và 495 cặp cặp song sinh khác trứng và tìm thấy rằng chỉ có 7,7% cặp song sinh cùng trứng nam và 5,3% cặp song sinh cùng trứng nữ đều là đồng tính, một kết quả giúp họ đưa ra kết luận "không có cơ sở cho thấy ảnh hưởng của di truyền là độc lập với ảnh hưởng từ bối cảnh xã hội (đối với việc hình thành đồng tính luyến ái)."[88]
Năm 2010, nghiên cứu của trường Queen Mary và Viện Nghiên cứu Karolinska ở Stockholm đã theo dõi 3.826 cặp song sinh cùng trứng và nhận thấy: dù có bộ gen giống hệt nhau, tỷ lệ số cặp song sinh cùng là đồng tính khi trưởng thành là rất thấp. Nghiên cứu kết luận: môi trường sống không chia sẻ là yếu tố đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành đồng tính luyến ái, trong khi yếu tố bẩm sinh chỉ có vai trò nhỏ tới trung bình. Cụ thể, ảnh hưởng từ di truyền chiếm 34-39%, ảnh hưởng từ môi trường sống không chia sẻ lên mỗi cá nhân (đã loại bỏ các yếu tố môi trường chia sẻ) chiếm 61-66% trong việc hình thành đồng tính nam, tỷ lệ tương ứng đối với đồng tính nữ là 18% và 80%[33][
มีทฤษฎีจำนวนมากเกี่ยวกับปัจจัยการขึ้นรูปเกย์เพศ ซึ่งรวมถึง:ลักษณะทางพันธุกรรม (โดยธรรมชาติ) .: [61] หลายคนคิดว่า ทัศนะของเป็นข้อสอบ และตัดสินใจ โดย gen อย่างไรก็ตาม นักวิจัยปีเตอร์ Bearman และฮันนาห์ Bruckner จาก มหาวิทยาลัยเยลและมหาวิทยาลัยโคลัมเบียในขณะที่ศึกษาข้อมูลจากศูนย์สุขภาพแห่งชาติ กล่าวว่า ความเป็นไปได้ว่า ทั้งคู่เป็น 5.3% 6.7% เกย์เพียงชาย และหญิง พวกเขาสรุป: ลักษณะทางพันธุกรรมเป็นเพียงหนึ่งในต้นกำเนิดของทัศนะของ อื่น ๆ ทำเช่นอิทธิพลจากวัฒนธรรม สังคม และครอบครัวที่ มีเด็กบทบาทสำคัญ [62]สอนและสภาวะแวดล้อม [61]ความสัมพันธ์กับสภาวะแวดล้อม: ทัศนะของมี correlated กับเป็นของวัตถุที่ 14 ปี (อายุเริ่มวัยแรกรุ่น และมีรูปร่างของเพศอุทธรณ์) ความสัมพันธ์ในภาคใต้คือสูงในหญิง ระดับของความเป็นเมือง อัตราสูงเป็นเกย์มักจะ เพิ่ม เนื่องจากสาเหตุในเมืองใหญ่มี มาตรฐานทางจริยธรรมสูง ซึ่ง ชีวิตส่วนตัวตลอดจนผลกระทบต่อสังคมวัฒนธรรมมากยากต่อการควบคุม ทำให้ง่ายมาในแนวเกย์วัยรุ่น [63] [64] [65] [66]ปัจจัยครอบครัว: ขาดความปลอดภัยและพ่อจะติดแม่อย่างใกล้ชิดเกินไปเป็นปัจจัยหลักของการก่อตัวในเพศชาย หญิง แม่ที่เสียชีวิตในวัยรุ่น เป็นบุตรคนเล็ก หรือลูกสาวในครอบครัวยังยกของเกย์ ผู้ที่ มีพ่อแม่หย่าหรือจะเช้าจะมักจะสูงกว่าเกย์คนมีพ่อแม่มีความสุข, [67] [68] [69]บาดเจ็บทางจิตใจ: การบาดเจ็บทางจิตใจที่เกิดจากการล่วงละเมิดทางเพศยังเป็นปัจจัย การศึกษาในรายของสมาคมแพทย์อเมริกันพบว่า "วัยรุ่นประสบการล่วงละเมิดทางเพศ เพศชายโดยเฉพาะอย่างยิ่ง เหมือนว่าตัวเองเป็นคนรักร่วมเพศหรือ bisexual 7 ครั้งมากกว่าผู้ที่ไม่ถูก" [70] ศึกษาอื่นพบว่า "46% เกย์คนเทียบกับ 7% ของผู้ชายรักต่างเพศรายงานที่ถูก เพศ ตัวเลขที่สอดคล้องกันคือ 20% ของเลสเบี้ยเทียบกับ 1% ในผู้หญิงรักต่างเพศ "" [71]อิทธิพลทางสังคมวัฒนธรรม: การเหมารวมของแต่ละบุคคลทุกเพศเป็นผลิตภัณฑ์ของสังคมวัฒนธรรม สังคมมักจะ ยอมรับทัศนะของ แล้วจะมีคนจำนวนมากมักจะ เป็นเกย์มากขึ้น ในอเมริกา มีการเพิ่มขึ้นในจำนวนผู้หญิงรู้สึกติดใจเกย์ นักวิจัย Binnie Klein โต้เถียงที่ "เป็นที่ชัดเจนว่า การเปลี่ยนแปลงในเพศในจิตใจคนมากกว่าเคย และมีโอกาสมากขึ้น- และการยอมรับ-ข้ามเส้นขอบ (เกี่ยวกับเพศ) " [72] Toni Meyer นักวิจัยอาวุโสของนโยบายครอบครัวสภาของสถานะของนิวเจอร์ซี่ (สหรัฐอเมริกา) กล่าวว่า: พร้อมกับการเคลื่อนไหวสนับสนุนเกย์ นับ จำนวนผู้ชายเกย์ (ในสหรัฐฯ) มีเพิ่มขึ้น 18% และหมายเลขของเลสเบี้ยยังเพิ่มขึ้นถึง 157% นี้แสดงปัจจัยทางวัฒนธรรมมีผลกระทบต่อประสิทธิภาพในพฤติกรรมสนับสนุนให้เป็นเกย์ และ อ้อมน้อย ทำลายทฤษฎีทั้งหมดของ "ทัศนะของธา"จำนวนเรื่องพี่ชาย (สำหรับผู้ชายเกย์): [73] อย่างไรก็ตาม ตามมาก มากน้องชายจะเพิ่มเป็นเกย์ค่า 28-48% ขึ้น [74] [75] [76] [77] ผลของน้องเป็นประมาณ 1/7 ของชายเกย์ [78] มีความหมายและน้องสาวของชายเกย์ [79]Hoócmôn ในครรภ์ระยะ: [80] [81] ผู้เชี่ยวชาญของสถาบันคณิตศาสตร์ และชีวภาพสังเคราะห์ (สหรัฐอเมริกา) กล่าวว่า ทัศนะของที่ได้ติดต่อกับ "ต่างองค์ประกอบในพันธุศาสตร์" epi หมายเรียก ผลิต EPI หมายในเพศในระยะแรก เพื่อป้องกันทารกในครรภ์ เพศจาก อิทธิพลของฮอร์โมนเพศชาย ป้องกันทารกในครรภ์หญิงเติบโต ไปทางชาย และในทางกลับกัน อย่างไรก็ตาม ในบางกรณี epi-เครื่องหมายที่ถูกส่งผ่านจากพ่อไป ยังลูก หรือ จากแม่ไปสน ก่อให้เกิดผลย้อนกลับในการอุทธรณ์เพศ [82]ความวิตกกังวลของมารดาในระหว่างตั้งครรภ์ [83] [84] [85]การสังเคราะห์ปัจจัยข้างต้นอเมริกันออสการ์ของกุมาร (อเมริกันสถาบันกุมารเวช) ยืนยันว่า "เพศถูกกำหนด โดยลักษณะทางพันธุกรรม ฮอร์โมน และสิ่งแวดล้อม" [86] การถกเถียงดำเนินตามในปัจจัยชีวภาพจิตวิทยาเป็นลักษณะทางพันธุกรรมและการทำงานของฮอร์โมนต่าง ๆ ในทารกในครรภ์ Sigmund Freud และจิตวิทยาที่ยืนยันว่า การก่อตัวของเพศเนื่องจากปัจจัยหลายอย่าง รวมถึงเหตุการณ์ที่เกิดขึ้นในวัยเด็กที่ผ่านมา แพทย์ของจิตวิทยาที่ Enrique Rojas ของสเปนกล่าวว่า 95% ของเกย์สาเหตุว่าเนื่องจากปัจจัยแวดล้อมเช่นขาดการสนใจของบิดา มารดา หรือล่วงละเมิดทางเพศในวัยเด็กNhà nghiên cứu Lisa Diamond, khi xem xét các nghiên cứu về xác định tình dục đồng tính và song tính của nữ, nói rằng nghiên cứu tìm thấy "sự thay đổi và tính linh động trong tình dục đồng giới, nó mâu thuẫn với mô hình thông thường cho rằng khuynh hướng tình dục là cố định và bẩm sinh"[87] Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các hành vi không phù hợp với giới tính ở trẻ em là chỉ báo lớn nhất của tình dục đồng giới ở tuổi trưởng thành[88][89] Dary Bem cho thấy rằng một số trẻ em khi chứng kiến hành vi tình dục đồng tính có thể gợi lên kích thích sinh lý, mà sau này sẽ được chuyển thành kích thích tình dục. Peter Bearman cho rằng những phát hiện của ông ủng hộ giả thuyết rằng hành vi giới tính trong thời thơ ấu và thiếu niên sẽ góp phần hình thành quan hệ đồng tính ở tuổi trưởng thành. Ngoài những tác động cá nhân, cấu trúc xã hội và những ảnh hưởng từ văn hóa xã hội cũng góp phần tạo ra sự thu hút đồng tính.[88] Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, Alan Sanders, tuyên bố rằng "những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ môi trường sống."[90] Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.[91]สองนักวิจัย Bearman และ Bruckner (2002) ศึกษา 289 เหมือนแฝด (แฝดไข่ใบเดียวกัน) และ 495 แฝดคู่อื่น ๆ ของไข่ และพบว่า เพียง 7.7% ของคู่เดียวกันไข่ไข่ 5.3% ชาย และหญิง คู่เดียวได้เป็นเกย์ สรุปผลการช่วยเหลือพวกเขาให้ "เป็นพื้นฐานไม่มีอิทธิพลทางพันธุกรรมเป็นอิสระของการ อิทธิพลของบริบททางสังคม (ในทัศนะของ) " [88]ใน 2010 วิจัยโดยโรงเรียนควีนแมรี่ และ สถาบัน Karolinska ในสต็อกโฮล์มได้ติดตาม 3,826 แฝดไข่กัน และสังเกต เห็น แม้จะมีกลุ่มเหมือนกัน อัตราของแฝดเป็นเกย์เป็นผู้ใหญ่มากขึ้น การศึกษาสรุป: สภาพแวดล้อมที่อยู่อาศัยร่วมกันเป็นองค์ประกอบมีบทบาทหลักในการก่อตัวของทัศนะของ ในขณะที่ปัจจัยแต่กำเนิดเพียงแต่มีขนาดเล็กและขนาดกลางบทบาท โดยเฉพาะ อิทธิพลทางพันธุกรรมคิดเป็น 34-39% อิทธิพลของสภาวะแวดล้อมที่ใช้ร่วมกันค่าแต่ละคน (แล้วเอาปัจจัยแวดล้อมใช้ร่วมกัน) ใช้ 61-66% เกย์คนในการก่อตัว อัตราที่สอดคล้องกันสำหรับเลสเบี้ย 18% และ 80%, [[33]
การแปล กรุณารอสักครู่..
